IL-2 1946, không chiến online, team VIVS đang tuyển quân - vozForums
vozForums
Go Back   vozForums > Games > Thảo luận chung
Reply
 
Thread Tools
  #1  
Old 17-09-2007, 18:06
shabondama's Avatar
shabondama shabondama is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2007
Location: Sân bay dã chiến
Posts: 4,572

IL-2 1946, không chiến online, team VIVS đang tuyển quân


Tất cả các thông tin về game nằm hết ở post này, vì vậy các bạn đọc kỹ chỗ nào ko hiểu rồi mới hỏi nhé.


Quote:
Mục lục

1. 1 số video clip tớ tự quay.
2.Hướng dẫn cơ bản một số thứ về IL-2 1946 và bay online
a) Công suất động cơ. ( Throttle )
b) Độ nghiêng cánh quạt ( Prop pitch )
c) Trim
d) Mixture ( Chế hoà khí )
e) Supercharger
f) Radiator ( cửa gió )
3.Cất cánh – hạ cánh trên mặt đất – tàu sân bay.
4. Luyện tập đấu súng và hướng dẫn ném bom.
Bombing tutorial
Mission training
5. Setup, mod và patch các loại
6.Cách chơi online

Joystick setting cho IL-2 1946
Công cụ điều chỉnh góc bắn
Chương trình Joycontrol để chỉnh joystick setting
Đặt nút trong game
7.Bay đội hình, các đường bay cơ bản, chiến thuật tấn công, phòng thủ:
  • Các bài bay cơ bản 1
  • Các bài bay cơ bản 2
  • Các bài bay cơ bản 3
  • Các bài bay cơ bản 4
Các khuyến cáo, lời khuyên cho các "phi công"
8.Cách đặt tên, liên lạc trên "tần số"
9.Yêu cầu cấu hình cho gameCách set màn hình wide hoặc các màn hình có phân giải cao

Quote:
Thông tin của Team VIVS: (nick skype)

vivsbigminh 74 (Dechangcum)
vivs_mirage 23 (shabondama)
vivs_nightsonata 31 (Night Sonata)
vivs_wuach0911 09 (wuach0911)
crazycat2709 27 (Tom92)
VIVS_mignol 85 (newtointernet)
18 (nhangnhit)
IL-2 1946 là cái gì ?
  • IL-2 1946 là bản sau cùng của series IL-2 Sturmovik và Pacific Fighter, chuyên về thể loại máy bay thời thế chiến.
  • IL-2 1946 là bản nâng cấp có cả jet như Mig17 và Sabre F-86
  • IL-2 1946 là game không chiến trực tuyến phổ biến nhất bây giờ
  • IL-2 là game không chiến trực tuyến khó nhất hiện nay, do đó bạn có là pro ở các game/sim không chiến khác thì tôi xin chúc mừng, bạn chưa thể bay ngay lập tức nhưng có thể bạn sẽ rút ngắn thời gian nắm bắt để bay online. Đồng thời, bạn cần phải nắm rõ các thông tin ở post này, tập luyện bay offline một thời gian rồi hãy chuyển sang bay online vì thế giới online có trình độ hoàn toàn khác so với bay offline. Cứ từ từ mà tập luyện nếu bạn yêu thích, nóng vội hỏng việc. Good luck !

>>> Bạn có thể tải hướng dẫn pdf về tại đây <<<













1.Đây là 1 số video clip tớ tự quay.

http://www.youtube.com/watch?v=7EDHFO99gAc <-- hạ cánh trên tàu sân bay bằng Dauntless SDB
http://www.youtube.com/watch?v=rghPVgt3EGo <-- F6F hạ cánh trên tàu sân bay
http://www.youtube.com/watch?v=P7vthz32GBM <-- bay online trên server SKies oF fire
http://www.youtube.com/watch?v=8O5zXei0-i4 <-- bay online trên server SKies oF fire
http://www.youtube.com/watch?v=OX3a5y24DmM <--- bay online
http://www.youtube.com/watch?v=OkxQmZGchUs <-- Demo freetrack

http://www.youtube.com/watch?v=VosPLebpsfg <-- bay vu vơ với team VIVS
http://www.youtube.com/watch?v=mUtVy2lr8vI <-- VIVS first encounter 1
http://www.youtube.com/watch?v=xQrs1gU4l0A <-- VIVS first encounter 2
http://www.youtube.com/watch?v=lMcv0prajAc <-- VIVS tác chiến ném bom

http://www.youtube.com/watch?v=IXudldDkqL4 <-- hướng dẫn cơ bản chiến thuật tấn công Boom and Zoom


2.Hướng dẫn cơ bản một số thứ về IL-2 1946 và bay online

Tất cả những vấn đề sau đọc khá rắc rối nhưng khi thực hành sẽ hiểu nhanh, tuy nhiên vẫn cần thời gian để tìm hiểu dần dần.

a) Công suất động cơ. ( Throttle )

Được đo từ 0 tới 100%, có những loại máy bay có công suất tới 110% và hỗ trợ boost engine ( tăng tốc cưỡng bức – tương tự đốt đít ‘afterburner’ ở máy bay hiện đại - tất nhiên chỉ nhanh hơn bt chút, nhưng trong IL-2 nhanh hơn 1 vài dặm 1 giờ cũng là ưu thế cực lớn ) dành cho tăng tốc một cách nhanh nhất, vd : khi cất cánh từ tàu sân bay, khi rượt đuổi đối phương hoặc khi leo cao.
Công suất động cơ nên để ở các mức khác nhau khi thực hiện các hoạt động tương ứng, không nên để động cơ hoạt động ở mức quá 100% lâu, dẫn tới chết máy.
Boost engine thường được trang bị cho các máy bay ở thời kì cuối WW2, ở các phe khác nhau nó được gọi bằng các tên khác nhau nhưng thực chất đều giống nhau về chức năng.

Vd : khi bay hành trình ta nên để công suất ở 85-90% để tiết kiệm nhiên liệu, tránh nóng máy.

b) Độ nghiêng cánh quạt ( Prop pitch )



Hình vẽ trên là mặt cắt của cánh quạt máy bay theo phương ngang, hướng máy bay chuyển động là từ dưới lên.
Tưởng tượng Độ nghiêng cánh quạt cũng giống như độ nghiêng của mái chèo khi chèo thuyền hoặc là hộp số của động cơ. Khi chèo thuyền, mái chèo càng đứng thì càng khoả nước mạnh hơn, thích hợp khi tăng tốc, khi chèo nhanh ta chỉ việc nghiêng mái chèo đi đỡ mất sức mà vẫn duy trì được tốc độ.
Hoặc đơn giản và quen thuộc hơn, đối với hộp số xe máy, ô tô, số 1 là số khoẻ nhất, sử dụng khi tăng tốc ban đầu hoặc khi leo dốc, còn khi đi nhanh ta sử dụng các số cao hơn giúp chạy tốc độ nhanh hơn mà tốn ít nhiên liệu.
Từ đó liên hệ tới độ nghiêng cánh quạt, mức 10% là thấp nhất, khi đó cánh quạt có góc nghiêng alpha là lớn nhất đối với phương ngang ( nhìn trên hình ), khi đó tốc độ vòng quay của cánh quạt là bé nhất do bị lực cản của không khí. Ở mức 100% góc nghiêng alpha là bé nhất, lúc này cánh quạt sẽ quay ở tốc độ rất cao, ít lực cản của không khí nhưng giúp máy bay đạt tốc độ cao.

Về việc điều khiển độ nghiêng cánh quạt ( ĐNCQ ) bạn chỉ cần nhớ :
- Khi bay hành trình : ĐNCQ = 80% - 85%
- Khi tăng tốc : 85-95% hợp lý nhất
- Khi cất cánh : 100 %.
- Khi hạ độ cao : 70-80%.
- Khi không chiến : 95-100% là hợp lý.

Bạn nên sử dụng các nút trên bàn phím một cách hợp lý để điều khiển prop pitch, tôi thường sử dụng phím – và + để tăng giảm độ nghiêng cánh quạt, luôn sử dụng Manual prop pitch, sử dụng thành thạo sẽ là một lợi thế không nhỏ khi không chiến, thể hiện rõ nhất khi sử dụng 2 máy bay cùng loại bám đuổi nhau, ai sử dụng prop pitch cũng như điều khiển máy bay hợp lý sẽ có tốc độ tốt hơn.
Mỗi máy bay đều có một cách điều khiển ĐNCQ khác nhau, đặc biệt ở các máy bay Đức thường có prop pitch tự động.
- Nên nhớ một điều là ĐNCQ ảnh hưởng tới góc tấn công của máy bay ( Angle of attack ), khi đó phải kết hợp với Trim để cân bằng ( Trim tôi sẽ nói ở phần kế tiếp )
Khi đang bay bình thường, bạn giảm prop pitch, sức đẩy động cơ tăng, tốc độ chậm lại, sức nâng của cánh máy bay giảm, vì vậy AOA giảm, bạn phải trim up để mũi máy bay nâng nên và ngược lại.

tip : khi bay BF-109 thì nên để auto prop-pitch, nếu ko rất dễ chết động cơ, ngược lại FW-190 nên để prop pitch manual sẽ có tốc độ tốt hơn.
c ) Trim
Là cách kết hợp các bộ phận lái của máy bay như cánh lái đứng, cánh lái đuôi ngang … để cân bằng máy bay.
Khi bay chậm, máy bay không đủ độ nâng, thay vì kéo joystick thì bạn chỉ phải phải trim up để nâng mũi máy bay lên, khi bay nhanh, bay hành trình, sức nâng của cánh lớn, dẫn tới việc mũi máy bay được nâng lên, do đó phải sử dụng trim down để cân bằng ( phím tắt của trim là ‘Ctrl + ;’ và ‘Ctrl + . ‘ )
Khi máy bay bị hư hại, lệch sang trái hoặc phải, tùy trường hợp ta sẽ trim left ( Ctrl + , ) hoặc trim right ( Ctrl + / ) theo chiều ngược lại để cân bằng.
Sử dụng trim thuần thục, hợp lý đóng góp rất nhiều vào khả năng không chiến của bạn, đặc biệt nó giúp máy bay được cân bằng hợp lý, đạt tốc độ cao trong một thời gian ngắn khi không chiến …

d) Mixture ( Chế hoà khí )

Tương tự như động cơ ô tô xe máy, động cơ máy bay cũng cần không khí hoà trộn với nhiên liệu để hoạt động, tuy nhiên máy bay hoạt động ở các độ cao khác nhau, do vậy ta sẽ cần các mức hoà trộn nhiên liệu khác nhau.

Ở cao độ thấp : 0 – 2500 mét, mixture 100% là vừa, một số máy bay cất cánh từ tàu sân bay cần mixture tới 120%.
Càng lên cao mixture càng giảm : quá 3000 mét nên đặt mixture = 80%.

e) Supercharger

Thiết bị dùng để nén hỗn hợp không khí / xăng để cung cấp cho động cơ. Càng lên cao không khí càng loãng, vì vậy phải có độ trộn hợp lý cho hỗn hợp. Nếu bay quá cao, không có supercharger hỗ trợ máy có thể bị chết hoặc không tạo ra đủ công suất cho máy bay duy trì độ cao.
Supercharger cho phép động cơ tạo công suất ở cao độ lớn, một số máy bay có 2 chế độ của supercharger, mức 1 thích hợp độ cao từ 0 – 3km, mức 2 là từ 3 km trở lên.

f) Radiator ( cửa gió )

Sử dụng khi máy nóng, mở ra để thoát nhiệt giúp làm mát động cơ.
Phím tắt ( R )
Một số loại máy bay có Auto Radiator, một số loại phải điều khiển bằng tay.
+ Khi cất cánh, radiator đóng
+ Khi bay hành trình, radiator = 2 là hợp lý
+ Khi không chiến = 4, có ý kiến nên đóng cửa gió để giảm sự cản gió.
+ Khi máy quá nóng ta mở full, giảm công suất động cơ để làm mát máy.

3.Cất cánh – hạ cánh trên mặt đất – tàu sân bay.

Trước khi có thể bắn nhau, việc đầu tiên của bạn là phải thành thạo cách cất cánh, hạ cánh trên mọi địa hình. Vì mission online yêu cầu cất cánh và hạ cánh an toàn mới có điểm, vì vậy đừng nên mất điểm một cách vô lý chỉ bởi vì bạn không biết cách ... hạ cánh.
IL-2 1946 không giống bất cứ một game/sim máy bay nào bạn đã từng chơi, vì vậy đừng hi vọng bạn có thể nhảy ngay lên máy bay, đẩy throttle, kéo stick là vọt thẳng lên trời. Cất cánh cũng cần phải tập luyện, đặc biệt là cất cánh từ tàu sân bay.

a ) Cất cánh trên mặt đất.

-Bật động cơ ( I ). Đối với máy bay có hơn 1 động cơ thì phải khởi động từng chiếc, vì vậy cần phải gán nút chọn từng động cơ, sau đó chọn tất cả động cơ để điều khiển.
-Kéo throttle về IDLE
-Chỉnh Flap chế độ Take-off
-Taxi theo đường lăn để ra đường băng
-Căn giữa, lock tail wheel
-Đẩy throttle lên 50%, chờ tốc độ tăng đẩy tiếp 80%, đến 100kmh thì đẩy Full, có thể bật WEP ( trợ lực – phím tắt là W ) khi cần thiết.

*** Ở một số mission online, có thể bạn sẽ được đặt ngay ở trên đường băng, vì vậy cần phải kiểm tra xem máy bay có bị chặn bánh không (chock) trước khi cất cánh.

b) Cất cánh trên tàu sân bay.

- Bật động cơ ( I ). Đối với máy bay có hơn 1 động cơ thì phải khởi động từng chiếc, vì vậy cần phải gán nút chọn từng động cơ, sau đó chọn tất cả động cơ để điều khiển.
- Chỉnh Flap chế độ take-off, nếu chở nặng thì bật full flap.
- Nhiên liệu để 50-75%, nếu nặng quá có thể máy bay sẽ lao xuống biển khi rời sàn tàu. Nếu mang bom thì nên mang quá nhiều, chỉ nên mang 1/2 số bom có thể mang được.
- Bật máy 100%, mở tăng lực (nút W)
- Khi cánh quạt quay hết tốc độ, nhả chock (vật chặn bánh - set nút ở trong option).
- Cất cánh, nếu cần thiết thì khoá càng tránh chạy lệch đường băng (Lock tail wheel).

c) Hạ cánh trên mặt đất

Khi cách sân bay 1-2 km, căn thẳng đường băng, giảm độ cao xuống 500m, tốc độ 190-200 km, khi đến gần sân bay giảm tốc xuống 160-170 km, độ cao 200 m, chỉnh tốc độ phù hợp xuống sao khi tiếp đất còn 140 kmh.
Khi gần tiếp đất bật full Flap ( Landing ) để tăng sức nâng, sử dụng kết hợp trim.

d) Hạ cánh trên tàu sân bay.

Như hạ cánh trên mặt đất, có điều tốc độ đáp để cao hơn 1 chút nếu mũi máy bay qua cao không nhìn thấy sàn tàu.
Ở một số máy bay như F4U, Zero, Seafire có chế độ nâng ghế phi công để nhìn cho rõ (Raise pilot seat - gán nút trong option).
Tuy nhiên để an toàn, máy bay chiến đấu chỉ nên đáp ở tốc độ 130, nếu thấp quá sẽ gãy càng.
Trước khi touch down chú ý kiểm tra landing gear, tail hook (móc hãm).


4. Luyện tập đấu súng và hướng dẫn ném bom.

Hãy biến kỹ năng bắn súng của bạn thành bản năng, khi bạn luyện kỹ năng bắn súng trở thành bản năng, việc dogfight sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.
Thứ 2 là cần xác định cách bay của bạn là thế nào ? Ở đây có 2 lựa chọn, 1 là Boom and Zoom, 2 là Turn and Burn. Vậy 2 loại này khác nhau thế nào ?

- Boom and Zoom: là cách sử dụng máy bay có tốc độ cao để tận dụng độ cao, sau đó bổ nhào xuống máy bay địch, hạ gục và trở lại độ cao ban đầu. Nói nôm na đây là cách bay hình sin, hoặc hit-and-run. Cách bay này rất an toàn và hiệu quả nếu bạn sử dụng tốt. Các máy bay hợp với chiến thuật này là FW-190, P-39, P-40, P-51, Yak-3 ...
- Turn and Burn: là cách chiến đấu quần vòng truyền thống, 2 máy bay bám đuổi nhau (thường theo hình vòng tròn hoặc zic zắc). Newbie thường bay theo phương pháp này do bản năng, tuy nhiên cách này khá nguy hiểm trên server đông người, bạn có thể trở thành con mồi của kẻ khác từ phía sau tới. Vì phương pháp này thường là do bản năng, vì vậy từ bỏ để chuyển sang BnZ là rất khó, cần thời gian luyện tập. TnB chi nên áp dụng vào tình huống 1-1 hoặc ở tình huống thích hợp.

Bombing tutorial

Mission training copy vào thư mục single mission. Vào game, chọn full mission building. Chọn File -> Load và trỏ tới single mission.


5. Setup, mod và patch các loại

Cách cài mod UP 2.01 và patch để bay online.

Cài bản game IL-2 1946 mới tải trên thepiratebay.org bản chuẩn, mediafire hoặc cầm tiền ra tiệm mua đĩa IL-2 1946 đã crack.

1. Cài cái này trước IL-2 4.08m Patch
2.Rồi cài tiếp cái này IL-2 4.09m Patch

3.Tải Ultr@Pack version 2.01 về và cài tiếp lên. Rất đơn giản
Sau đây là link để tải UP 2.01 qua torrent và filefront
6.Cách chơi online

Để bay online điều đầu tiên bạn cần là 1 chiếc Joystick thật tốt. Chỉ có gà mới bay bằng bàn phím. Vì IL-2 1946 không cần quá nhiều nút điều khiển nên chỉ cần sử dụng những joystick phổ thông bán ngoài thị trường là tốt rồi. Các loại joystick tôi khuyến cáo như sau: Logitech 3D extreme, Logitech 3D Force, Wingman force 3D ... hoặc các loại joystick có tính năng tương tự, có rudder tích hợp trên stick.

Thứ 2 là download Hyperlobby về bản mới nhất tại đây
Thứ 3 là đăng ký lấy 1 nick và chiến thôi, rất đơn giản.


>>>>> Công cụ điều chỉnh góc bắn <<<<<

>>>>> Đây là chương trình Joycontrol để chỉnh joystick setting <<<<<




Joystick setting cho IL-2 1946, tuỳ vào loại máy bay, cách bay và loại joystick bạn đang sử dụng.

Oleg Maddox:
(phù hợp với FW-190, P-51, P-47 ... và các loại máy bay có xu hướng tấn công BnZ)

Roll: 1 3 6 12 21 32 44 61 81 100
Pitch: 1 4 8 15 24 33 44 60 77 100
Yaw: 0 10 19 32 43 54 63 74 86 100

crazyivan1970: Phù hợp với Turn and Burn tactics
Roll: 27 38 52 63 69 75 83 88 93 100
Pitch: 28 44 55 62 70 79 88 93 96 100
Yaw: 29 40 48 57 66 76 86 93 95 100 plus 7 deadband.


Cách này áp dụng cho Turn n Burn nhiều hơn.
Roll: 13 21 28 39 53 65 77 88 96 100
Pitch: 22 28 37 45 54 65 77 88 97 100
Yaw: 35 41 48 56 67 76 82 89 95 100

Đây là setting khuyến cáo khi mới bay IL-2:
Roll: 1 4 9 16 25 36 49 64 81 100
Pitch: 1 4 9 16 25 36 49 64 81 100
Yaw: Để nguyên.

Đây là setting cá nhân tớ:
Pitch : 0 - 5 - 10 - 17 - 25 - 33 - 43 - 54 - 71 - 83 ( 100 )
Roll : 0 - 3 - 7 - 15 - 25 - 35 - 50 - 66 - 84 - 100
Yaw : 0 - 8 - 19 - 29 - 39 - 51 - 62 - 75 - 86 - 100

Setting của thành viên Hellcat:

Pitch: 24 38 50 60 69 78 85 92 96 100
Roll: 15 23 32 42 55 64 76 86 94 100
Yaw: 35 48 60 69 78 85 91 95 97 100

Or

Pitch: 4 18 30 40 48 56 64 74 85 100
Roll: 3 10 16 25 34 42 55 67 82 100
Yaw: 35 48 60 69 78 85 91 95 97 100

Setting của 1 gã trên SimHq được cho là xài rất tốt với BnZ tactics.

Pitch: 40 46 52 58 64 70 76 82 88 94
Sau khi bay quen anh em có thể tự điều chỉnh cho phù hợp hơn.

Đặt nút trong game
Quote:
Numberpad

0 = Rudder Trim Neutral.
1 = Rudder Trim Left.
2 = Elevator Trim Negative.
3 = Rudder Trim Right.
4 = Aileron Trim Left.
5 = Elevator Trim Neutral.
6 = Aileron Trim Right.
7 = Select Left engines.
8 = Elevator Trim Positive.
9 = Select Right engines.
NumPad Insert = Aileron Trim Neutral.
NumPad Delete = Rudder Trim Neutral.
NumPad - = Decrease Prop Pitch.
NumPad + = Increase Prop Pitch.
NumPad / = Decrease Supercharger.
NumPad * = Increase Supercharger.


Basic Flight Commands

A = Autopilot on/off.
B = Brakes.
C = Chocks in/out.
D = Dive brakes toggle.
E = Engine on/off.
F = Fire Extinguisher.
G = Gear raise/lower.
H = Hook, as in tailhook.
I = Icon Types toggle.
J = Jetison drop tanks
K = Kilos/Knots/Miles per Hour toggle in speedbar
L = Lights on/off in cockpit.
M = Map show/hide.
N = Navigation Lights on/off.
O = Online Rating.
P = Place Change (to move to a different station).
Q = Mute sound (IE, 'Quiet' all.)
R = Radiator positions.
S = Smoke from wingtips.
T = Tailwheel lock.
U = Up increment for manual landing gear.
V = Gun pods on/off.
W = WEP or boost.
X = Time Skip.
Y = Down increment for manual landing gear.
Z = Change gunsight eye position.

C+ALT = Canopy open (If available).
M+ALT = Mirror show toggle (If available).
S+ALT = Seat Raised/Lowered (If available).
F+ALT = Fold Wings (If available).

A+Shift = Auto Level Pilot.
B+Shift = Bail out.
F+Shift = Fire Extinguisher.

A+CNTRL = Attatch/Detatch Aircraft.
D+CNTRL = Dimmer for gunsight.
F+CNTRL = Feather Propellor.
I+CNTRL = Toggle Speedbar/ Position Hint (alternate).
L+CNTRL = Landing Light toggle.
M+CNTRL = Mute radio key.
R+CNTRL = Radio channel switch.
T+CNTRL = Drop tanks (alternate).

(= key) = Increase Mixture.
(- key) = Decrease Mixture.
Backspace = 'No Cockpit View' toggle.
Delete = Gunsight view.
End = Normal View.
Page Down = Wide View.
Home = Jump to Cockpit #1 (Pilot).
Tab = Radio Comms.
` = Multiplay Chat.


Gunsight Controls (for gyroscopic sight)

Insert = Toggle Sight Mode.
Up Arrow = Increase Sight Distance.
Down Arrow = Decrease Sight Distance.
Right Arrow = Adjust Sight to Right, or change wingspan preset.
Left Arrow = Adjust Sight to Left, or change wingspan preset.


Bombsight Controls

CNTRL+Up Arrow = Increase sight altitude
CNTRL+Down Arrow = Decrease sight altitude
CNTRL+Right Arrow = Increase sight velocity
CNTRL+Left Arrow = Decrease sight velocity


Multiple Engines Controls (via Keyboard)

0 = Select All engines.
9 = Unselect All engines.
1 = Select Engine #1.
2 = Select Engine #2.
3 = Select Engine #3.
4 = Select Engine #4.
7.Bay đội hình, các đường bay cơ bản, chiến thuật tấn công, phòng thủ:

Tại sao phải bay đội hình ? Đơn giản là đội hình tốt sẽ tạo ra sự phòng thủ vững chắc, các thành viên trong đội hình sẽ có khả năng bảo vệ lẫn nhau, đồng thời tạo ra uy lực khi tấn công.

Các bài bay cơ bản 1

Các bài bay cơ bản 2

Các bài bay cơ bản 3

Các bài bay cơ bản 4


Các đội hình chiến đấu cơ bản:

a.High-Low wingman tactics
- Đội hình bậc thang, 2 thằng, 3 thằng đều tốt cả.
- Mỗi phần tử bay cao hơn wingman đằng trước cự ly khoảng 300-400 mét, sau 300-400 mét.
- Với đội hình này, các phần tử bay cao hơn có thể cover được hướng 6 giờ của wingman.
- Khi gặp dịch tấn công wingman từ sau, phần tử bay cao hơn có thể dive xuống và giải vây.
- Với đội hình này, phần tử bay cao nhất có trách nhiệm cao nhất, và phải bảo vệ đồng đội bằng mọi giá. Sử dụng COMM để thông báo, hướng dẫn đồng đội bị tấn công lẩn tránh.

b.The I formation

- Bay với đội hình 1,2 bomber và số hộ tống gấp đôi.
- Phi cơ hộ tống bay dẫn đầu, bảo vệ bằng bomber có súng sau đuôi.
- Nếu kẻ địch bắn head on, 2 phi cơ hộ tống tách ra và tấn công. Hoặc nếu sử dụng loại phi cơ có hoả lực mạnh như FW-190, BF-109 thì chủ động tấn công từ xa.
- Nếu kẻ địch xuống từ hướng 6 giờ, bomber bắn trả, 2 phi cơ hộ tống tách ra, lấy độ cao (nếu đang bay bằng) vòng lại, bám theo kẻ địch.

c. Chiến thuật Drag & Bag

- Mục đích là sử dụng 1 quân ta làm mồi cho quân địch, sau đó teammate lợi dụng tình hình và tiêu diệt địch.
- Chim mồi phải tuyệt đối nghe theo hướng dẫn từ đồng đội, vd: khi call - break left, turn split S ... thì phải thực hiện đúng.
- Drag n Bag thích hợp khi 2 bên có độ cao, tốc độ, loại máy bay giống nhau.
- Nếu đối phương có lợi thế thì chuồn cho nhanh.
- Chiến thuật này có điểm nguy hiểm là chim mồi phải bay đủ đơn giản để teammate có thể theo - bắn - hạ gục đối phương. Ko nên thực hiện các động tác quá khó, dẫn tới đối phương bám đuôi cũng bay với động tác khó.

Bản thân tớ đã nếm mùi Drag & Bag 2 lần, đối phương là 1 cặp Zero, khi ta chủ động lao vào tấn công 1 trong 2 đối tượng, kẻ còn lại tận dụng lợi thế quay lại, vòng ra sau lưng và kết thúc trận đánh.

Các khuyến cáo, lời khuyên cho các "phi công"

Đầu tiên là phải nắm rõ điểm yếu, điểm mạnh của máy bay mình, đồng thời nắm rõ điểm yếu, điểm mạnh của máy bay đối phương. Từ đó mới có thể đưa ra biện pháp áp chế. Bạn sẽ thua tới 90% nếu không biết địch, biết ta.

Cách tránh đạn tốt nhất, đối với các máy bay có khả năng lăn tròn nhanh (FW-190, P-51 ...) barrel roll (lăn thùng phi ). Do phần lớn phi công có xu hướng lượn vòng theo đường bay của con mồi nên việc lăn tròn như thế này tránh đạn rất tốt, tớ thường áp dụng với FW-190, kết quả khả quan, có lúc bị đuổi đến 5-10 phút nhưng địch vẫn ko tài nào bắn trúng được.

Để bắn trúng không có cách nào tốt hơn là xáp lại gần. Ở ngoài đời thực, các phi công chiến đấu thời thế chiến 2 thường lại rất gần con mồi mới khai hoả, thường là trên dưới 100 mét, ở tầm này thì súng máy cũng như cannon đều là vũ khí chết người.
Tuy nhiên, ở trong game khi bay online, tầm bắn 150-200 mét là hợp lý, đơn giản bởi vì bạn rất khó xáp lại gần đối phương do đa phần các server đều cho phép view external, có nghĩa là bấm F6 để phát hiện máy bay đối phương từ xa. Từ đó đối với weapon convergence distance, các bạn nên để khoảng cách 200 mét là hợp lý, ở khoảng cách này, độ chụm của đạn sẽ có sức công phá lớn trong khoảng 150-250 mét, yên tâm tớ đã thử nhiều rồi, để xa hơn hay thấp hơn sẽ không khả thi.

Để sử dụng prop-pitch tốt nhất đối với từng loại máy bay.

Vào Quick Mission Builder, chọn loại máy bay, bay cruise đồng thời tăng thời gian của game, sau đó thao tác với động cơ, prop-pitch sao cho tốc độ cruising là tốt nhất, ko gây nóng máy, tiết kiệm xăng.

8.Cách đặt tên, liên lạc trên "tần số"
Quote:
By: Night Sonata
Về com link thì không khác bình thường chúng ta hay dùng là mấy, theo em ta nên quy ước lại một số thứ sau đây, sau này có mem mới vào team thì họ cũng dễ nắm bắt và thực hiện theo, càng đơn giản dễ làm càng tốt, không cần quá câu nệ, game thôi mà.

Đầu tiên là về danh hiệu(callsign): nên đặt theo số có 2 hoặc 3 chữ số, chứ không nên gọi tên nhau. Bây giờ 3 đứa thì có thể dễ, nếu team phát triển thì khó nhớ tên để gọi lắm. Tốt nhất là khi vào Arming, chúng ta chọn số sơn trên máy bay, rồi khi vào chiến thì cứ số đó mà gọi, nhanh gọn thuận tiện, với cả trên icon hiện trong game có hiện cả số đó mà. Ví dụ, NS có callsign là 31, Shab có call sign là 23 thì gọi:

-31 gọi 23, bên trái 15 độ có 2 thằng, 23 thấy không?

Thứ hai là về cách thức sử dụng com-link: nên quy định leader, khi cất cánh, vòng chờ và bay tới hot zone thì tất cả trailers tuyệt đối nghe leader, và trên link chỉ có leader nói và hướng dẫn thôi. Các trailers nghe được leader nói gì thì thông báo nghe rõ, trailer nào bay cuối phải thông báo lại các trường hợp bay chưa đúng để đảm bảo trật tự đội hình. Việc này hạn chế nhiễu thông tin, ông thì báo động cơ, ông thì báo prop, ông thì báo heading, ông thì kêu các anh bay nhanh quá em không theo được, loạn hết cả. Ví dụ, NS 31, Shab 23, Cơm 41 chẳng hạn, 23 lead cất cánh đầu tiên, 41 lên cuối:

-Biên đội, đây 23, cất cánh xong sửa trái 40 độ, 23 vòng chờ tại E3, độ cao800.
-31 nghe tốt.
-41 nghe rõ.

-23, 41 gọi, 41 đã lên 800 ở E3.
-23 nghe tốt. Biên đội hướng 240, độ cao 3000, động cơ 90, prop 90, bay sang D4.
-31 nghe tốt.
-41 nghe tốt.


-31, 41 gọi, 31 sửa phải 15 độ (trường hợp thằng 31 mải ngắm nghía mà bay vẹo vọ sang trái)
-31 rõ.


......

Thứ 3 là về việc chỉ hướng, chỉ điểm, thống nhất nên sử dụng degrees chứ không dùng giờ. Việc dùng giờ chỉ xài khi bắn nhau loạn xạ, các wingmen tách đội hình, dùng để cảnh báo nhau địch đang ở hướng nào của ai. Chỉ hướng bay heading thì cứ xài 0>>>360. Thông báo vị trí trên bản đồ thì ngoài việc đọc ô tọa độ ra, nên đọc cả heading của mình nữa, ví dụ: "Đang ở E3, hướng 80" thì các wingmen ở F3 nghe còn biết là :"À, hắn đang ở E3 và đang bay về hướng mình, bay chậm lại chờ hắn đã" . Tương tự với việc chỉ điểm, chỉ theo kiểu "có địch phía dưới bên phải 20 độ" thì đỡ nhầm lẫn hơn "có địch bay thấp ở hướng 1 giờ", kẻo lại có ông quay đầu sang 11 giờ hô:"có thấy quái đâu". Ví dụ ngay như hôm trước: Shab bay bên trái của NS. NS hỏi :"Shad ở đâu"...."Anh ở 3 giờ của chú" làm NS tìm không thấy(đáng lẽ phải bảo 9h) .


Thứ 4 là khi vào công kích, leader cần phân công ai vòng chờ ở trên, ai vào pass với mình để tránh rối loạn đội hình, ông nào cũng tham rồi bị móc lốp chết hết. Trailer vào pass cùng với lead thì tuyệt đối không được tham để tránh friendly fire. Khi nào lead vòng ra thì mới bảo trail vào bắn tiếp. Không nên tham bám theo nó quá, dễ dẫn đến tình trạng sa vào TnB. Ai bắn rơi bắn trượt gì thì phải thông báo tình hình cho các wingmen còn lại nắm được.

Vài thứ đơn giản cần nhớ tại các thời điểm quan trọng vậy thôi, còn bình thường lúc hành quân thì cứ tán phét thoải mái

9.Yêu cầu cấu hình cho game

IL-2 Sturmovik: 1946
Publisher: Ubisoft
Developer: maddoxgames
Minimum System Requirements
OS: Windows 98/ME/2000/XP
Processor: Pentium 3 @ 1 GHz / Athlon Equivalent
Memory: 512 Mb
Hard Drive: 1.1 Gb free
Video Memory: 64 Mb
Sound Card: DirectX Compatible
DirectX: 9.0c

Joystick

Recommended System Requirements

OS: Windows 98/ME/2000/XP
Processor: Pentium 4 @ 2.4 GHz / Athlon Equivalent
Memory: 1 Gb
Hard Drive: 1.1 Gb free
Video Memory: 128 Mb

Sound Card: DirectX Compatible
DirectX: 9.0c
Joystick
Mouse

Notes:
Supported Video Cards at Time of Release:
ATI Radeon 7000/8000/9000/X families
NVIDIA GeForce 256/2/3/4/FX/6 families
Matrox Parhelia
Intel GMA 925X/915P/915G chipsets

Quote:
Cách set màn hình wide hoặc các màn hình có phân giải cao
Vào conf.ini rồi set đúng như dưới đây:

[window]
width=1920
height=1080
ColourBits=32
DepthBits=24
StencilBits=8
ChangeScreenRes=1
FullScreen=1
DrawIfNotFocused=0
EnableResize=0
EnableClose=1
SaveAspect=0
Use3Renders=0

save
Attached Files
File Type: zip SC_2_Eng.zip‎ (884.8 KB, 391 views)
File Type: rar Huongdanrutgon_PDF.rar‎ (279.3 KB, 616 views)

Last edited by shabondama; 02-12-2010 at 18:08.
Reply With Quote
  #2  
Old 18-09-2007, 08:43
black$'s Avatar
black$ black$ is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2006
Location: Hoa sữa thơm ven hồ
Posts: 1,538

1 chút hướng dẫn thôi.
Trong option nhớ chọn icon map on, icon on.
Khi đang bay ấn M để hiện bản đồ
Thông thường thi ấn A để máy lái tự động.
Khi đến gần mục tiêu ấn A lần nữa để lái bằng tay.
Bro nên học cách bám đuôi theo thằng số 1 ấy. Bản này máy bắn thông minh lắm.
Nếu khó bắn thì chọn Realsitic Gunner off để khi bắn đỡ rung.

Nếu bạn thích thì nên mua 1 cái joystick chơi cho thoải mái. dễ lái hơn nhiều.
Reply With Quote
  #3  
Old 21-09-2007, 17:05
karz_code47's Avatar
karz_code47 karz_code47 is online now
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2007
Location: T'aech'on Airport
Posts: 2,452

các bro cho em hỏi phía dưới góc trái màn hình có 3 dòng màu đỏ tương ứng với độ cao , vận tốc và cái gì nửa.Khi cất cánh lên thì thằng bồ báo độ cao và cái vecto(theo mình nghĩ là cái phương hướng) cần đạt được thì làm sao biết mình bay có đúng với cái vecto đó.Bro nào có cách quẹo hay thì chỉ mình với vì khi quẹo thì mình thấy cái đầu máy bay cứ chúc xuống hay chĩa lên trời
Reply With Quote
  #4  
Old 21-09-2007, 19:36
shabondama's Avatar
shabondama shabondama is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2007
Location: Sân bay dã chiến
Posts: 4,572

Cái đó là heading 0/360 độ là phía bắc, 90 là đông, 180 nam, 270 tây


Hướng dẫn Deflect shooting



Kinh nghiệm: Ngắm ngoài vòng tròn









Last edited by shabondama; 12-11-2010 at 10:13.
Reply With Quote
  #5  
Old 22-09-2007, 14:57
black$'s Avatar
black$ black$ is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2006
Location: Hoa sữa thơm ven hồ
Posts: 1,538

Bác phải ấn Z/X để chỉnh phần đuôi
Khi quẹo thì phải nghiêng máy bay về phía đó, kéo cần joy lại
Kết hợp nhiều thao tác mới ko bị quặt gấp quá mất độ cao
/ps Dùng Gravis ko thể nào quặt gấp để cắt đuôi được
Anh xuantam có biết cách nào chỉnh độ nhạy của Gravis Dual control ko thì chỉ em với
Reply With Quote
  #6  
Old 22-09-2007, 17:17
xuantam's Avatar
xuantam xuantam is offline
Senior Member
 
Join Date: 07-2006
Location: =Lockon.ru=
Posts: 32,122

Quote:
Originally Posted by black$
Anh xuantam có biết cách nào chỉnh độ nhạy của Gravis Dual control ko thì chỉ em với
chỉnh độ nhạy - sensivity của Joystick hoặc D-Pad trên Gravis Xterminator Dual Control thì coi ở đây:

XT chỉnh sensivity cho cả Joystick lẫn D-pad chơi LO đều như này:
_ Null Zone = 3
_ Accelerator = 5 hoặc 6 (hình như là tăng tốc giữa 2 trục X và Y của joystick, 6 là giá trị df)
_ Sensivity = 8 (value = 8 thì hơi nhanh, lái máy bay dễ bị stall, giá trị = 7 là hợp lý nhưng chơi LO nếu để = 7 khi climb rất khó kéo máy bay lên nhanh trong nhưng trường hợp dogfight => phải giật joystick liên tục, value = 7 phù hợp cho carrier landing hay thực hiện air-refueling cần độ chính xác cao

Ngoài ra còn phải thiết lập sensivity trong game cho phù hợp, chẳng hạn như trong Lock On, XT thay 2 phím Z/X chỉnh rudder = D-pad cho nhanh, bình thường đồ thị 2 trục X, Y của joystick là hình ( ~ ) nhưng với rudder không cần thiết phải nhịp nhàng mà bẻ sang 2 phía càng nhanh càng tốt ==> thiết lập đồ thị của rudder theo hình ( / ) là ngon nhất, ko biết IL-2 thế nào, chưa chơi


Reply With Quote
  #7  
Old 22-09-2007, 23:46
black$'s Avatar
black$ black$ is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2006
Location: Hoa sữa thơm ven hồ
Posts: 1,538

Il-2 chỉ toàn dogfight thôi, ALT 100-2000m
Speed 280-600 (dưới 280 thì em chưa dám thử)
Kinh nhất là bị mấy thằng YaK của liên xô nó bám
Cái rudder em chơi bên IL-2 cũng khá quan trọng, khi lao vào máy bay nó, nhất là loại ném bom thì chỉ có ngắm vào hông của cánh lớn, hoặc ngắm thẳng vào buồng phi công.
Tên lửa loại ko tầm nhiệt lởm ko thể tả, y như phóng Javelin ý

Last edited by black$; 22-09-2007 at 23:49.
Reply With Quote
  #8  
Old 23-09-2007, 00:11
shabondama's Avatar
shabondama shabondama is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2007
Location: Sân bay dã chiến
Posts: 4,572

chơi IL2 rudder quan trọng nhất là khi oanh tạc, thứ 2 là khi bắn đối đầu head-to-head với máy bay đối phương, xài rudder linh hoạt có thể cho phép bắn máy bay đối phương khi 2 bên ko ngắm bắn thẳng hàng ( máy bay hiện đại làm cái này hơi khó )



Tác dụng quan trọng thứ 3 của rudder là để cắt đuôi đối phương
Tuy nhiên xài rudder cũng nguy hiểm đối với 1 số máy bay có trọng tâm ko cân bằng như P-51 Mustang, rất dễ rơi vào stall, pin

Tên lửa, rocket trong IL2 chủ yếu để bắn mục tiêu mặt đất như xe máy, ôtô hoặc ụ súng thôi chứ bắn máy bay làm sao được ? có chăng chỉ xài bắn mấy con bomber to uỵch.


Deflect shooting guide

Mẹo vặt duy nhất: luôn double lead shooting - nghĩa là luôn tăng gấp đôi khoảng cách bắn đón, ít ra là gấp rưỡi.








Last edited by shabondama; 12-11-2010 at 10:13.
Reply With Quote
  #9  
Old 30-09-2007, 09:51
karz_code47's Avatar
karz_code47 karz_code47 is online now
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2007
Location: T'aech'on Airport
Posts: 2,452

ý các anh ui em chơi bằng bàn phím chứ nhà em "giàu" ko đũ tiền đễ sắm 1 em joytick.Có anh nào chơi trò này mà bằng bàn phím ko giúp em với,còn cái rudderlà cái zì thế ạh?Có fải là 2 cái cánh nhỏ fía sau đuôi máy bay fải ko?Còn fần training sao nó chỉ hướng dẫn cho mình vài chiếc máy bay thui sao ạh???Mình muốn thực tập cất cánh,hạ cánh hay zì zì khác nửa thì vô đâu ạh
Reply With Quote
  #10  
Old 30-09-2007, 18:12
shabondama's Avatar
shabondama shabondama is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2007
Location: Sân bay dã chiến
Posts: 4,572

Nói thật trò này chơi bằng bàn phím thì đúng là "bất khả thi".
Rudder là đuôi đứng nằm sau đít máy bay ấy.
Phần training thường là máy nó hướng dẫn mình, bạn muốn tập thì vào chơi phần single, có những bài riêng biệt cho từng bên Đức, Nga, Nhật, Mĩ, Ý, có các bài cất cánh hạ cánh cả trên tàu sân bay và đất liền

------------------

Giới thiệu về các loại máy bay tiêu biểu trong IL-2 1946

1.F4U – Corsair ( cướp biển )





Loại : Phục vụ trên tàu sân bay
Nhà sản xuất : Chance Vought
Cất cánh lần đầu : 29 – 2 – 1940
Chính thức hoạt động : 28 -12 – 1942
Được sử dụng bởi : Hải quân Mỹ - Thủy Quân lục chiến Mỹ - Không quân Hoàng Gia – Không lực hoàng gia New Zealand.
Thời kì sản xuất : 1940 – 1952
Số lượng : 12,571
Giá thành : 1.500.000 $

Hình dáng trông khá lạ mắt, cánh gập, chiếc corsair đã từng phục vụ trong chiến tranh thế giới 2 và chiến tranh Triều tiên và vẫn được một số lực lượng không quân sử dụng mãi cho đến năm 1960. Trong suốt cuộc chiến tranh thế giới lần 2, Corsair là loại máy bay người Nhật e sợ nhất, tỉ lệ được mất của Corsair đếm được là 11 : 1.
Với chiếc cánh quạt 3 lá to quá khổ, ban đầu các kiến trúc sư của Corsair rất khó thiết kế càng hạ cánh, sau cùng họ đã đi đến giải pháp là thay đổi hình dáng cánh cố định, làm cho nó gập xuống. Giải pháp này đồng thời làm cho thân và cánh giảm được lực cản, tuy nhiên nó làm cho chiếc máy bay nặng hơn bình thường và khó sản xuất.
Corsair F4U cũng là chiếc máy bay đầu tiên có thiết kế càng thu hẳn vào trong thân.
Dù được áp dụng nhiều công nghệ mới và có tốc độ cao hơn các máy bay cùng thời, Corsair có nhược điểm là khó lấy lại kiểm soát khi bị rơi vào spin, tuy nhiên nhược điểm này cũng sớm được loại bỏ.

Các trường hợp thiệt hại đối với Corsair F4U trong WW2:
- Không chiến : 189
- Pháo phòng không : 349
- Tai nạn trong khi thực hiện nhiệm vụ : 230
- Tai nạn khi bay bình thường : 692
- Bị phá hỏng : 164

Thông số kĩ thuật F4U-1A
- Đội bay : 1 người
- Dài : 10,1 m
- Chiều dài cánh : 12,5 m
- Cao : 4,9 m
- Diện tích cánh : 29,17 m2
- Trọng lượng rỗng : 4,073 tấn
- Trọng lượng tối đa : 6,300 tấn
- Động cơ : 1 x P Pratt & Whitney R-2800-8W radial engine, 2,250 hp (1,678 kW)

Tốc độ tối đa : 684 km/h
Tầm bay : 1634 km
Trần bay : 11,200 m
Tốc độ leo : 16,2 m/s
Vũ trang :
• Súng :
o 4× 0.50 (12.7 mm) M2 Browning machine guns, 400 viên mỗi khẩu
o 2× 0.50 Browning M2 machine guns, 375 viên mỗi khẩu
• Rockets: 4 × 5 (12.7 cm) Aircraft Rockets tốc độ cao
• Bombs: 2,000 pound (910 kg)




2. F6F – Hellcat ( mèo địa ngục )





Loại : Chiến đấu cơ
Nhà sản xuất : Grumman
Cất cánh lần đầu : 26 – 6 – 1942
Chính thức hoạt động : 1943
Về hưu : 1954
Được sử dụng bởi : Hải quân Mỹ - Thủy Quân lục chiến Mỹ - Không quân Hoàng Gia – Không quân Pháp.
Thời kì sản xuất : 1942 – 1945
Số lượng : 12,275

Chiếc F6F – Hellcat Grumman là hậu duệ của F4F Wildcat nhưng nó được thiết kế mới hoàn toàn, chỉ giống về hình dáng.
Hellcat cùng với Corsair là 2 chiến đấu cơ chủ lực của Hải quân Mỹ trong nửa sau chiến tranh thế giới 2. Nó chứng tỏ là loại máy bay thành công nhất trong chiến tranh thế giới, bắn rơi 5171 máy bay địch các loại.
Kiến trúc sư Grumman ban đầu làm việc với loại F4F trước khi phát xít Nhật tấn công cảng Trân Châu. Những chiếc Zero A6M của Nhật vượt trội F4F về khả năng vận động và tốc độ leo, tuy nhiên F4F lại có khả năng hứng đạn và hỏa lực tốt hơn, nó còn có khả năng bổ nhào tốt hơn Zero.
Thừa kế và áp dụng những lợi thế đó của F4F vào F6F, F6F tỏ ra hoàn toàn vượt trội so với những chiếc Zero, đặc biệt là khả năng sống sót cao do được bọc thêm 96 kg kim loại chống đạn, cùng với buồng lái chịu đạn và gia cố xung quanh động cơ + bộ phận làm mát. Ngay cả thùng nhiên liệu cũng là loại tự liền cho phép máy bay bị dính đạn có thể trở về sân bay mà không mất nhiều nhiên liệu.
Đại tá David McCampbell, Ace hàng đầu của Hải quân Mỹ bắn rơi hầu hết máy bay địch trên chiếc Hellcat , ông mô tả nó “ là những chiếc máy bay tuyệt vời, dễ bay, ổn định và đặc biệt là dễ bảo trì ”
Lần không chiến đầu tiên của F6F – Hellcat là vào ngày 1- 9 – 1943 từ tàu sân bay USS Independence ( CVL – 22 ) , bắn rơi một máy bay do thám trên biển. Không lâu sau đó, vào ngày 23 tháng 11, những chiếc Hellcat đụng độ với máy bay Nhật trên vùng trời Tarawa, bắn rơi 30 chiếc Mitsubishi Zero và chỉ để mất 1.
Tại Rabaul, vào ngày 11 – 11 – 1943, trong suốt một ngày không chiến, những phi công F6F đã bắn rơi hàng loạt máy bay Nhật bao gồm cả Zero với hơn 100 chiếc mà chỉ mất vài Hellcat.
Tỉ lệ bắn rơi – mất của Hellcat với các loại máy bay Nhật là :
- 13 – 1 đối với Mitsubishi Zero
- 9,5 – 1 đối với Nakajima Ki – 84
- 28 – 0 đối với Kawanishi N1K-J
- 3,7 – 1 đối với Mitsubishi J2M.
Số lượng Ace bay Hellcat cũng là nhiều nhất với 306 Sĩ quan.
Trong vai trò tấn công mặt đấy, Hellcat cũng thả tới 6503 tấn bom.

Thông số kĩ thuật F6F-5

- Đội bay : 1 người
- Dài : 10,24 m
- Chiều dài cánh : 13,06 m
- Cao : 3,99 m
- Diện tích cánh : 31 m2
- Trọng lượng rỗng : 4,190 tấn
- Trọng lượng tối đa : 6,990 tấn
- Động cơ : 1 x P Pratt & Whitney R-2800-10W “two-row” radial engine, 2,000 hp (1,500 kW) – Trang bị Supercharger 2 chế độ.


Tốc độ tối đa : 610 km/h
Tầm bay tối đa: 2460 km
Trần bay : 11,370 m
Tốc độ leo : 17,8 m/s

Vũ trang :
• Súng:
o 6× 0.50 in (12.7 mm) M2 Browning machine guns, 400 viên/khẩu
o 2× 20 mm cannon, 225 viên/khẩu
o 4× 0.50 in (12.7 mm) Browning machine guns 400 viên/khẩu
• Rockets:
o 6× 5 in (127 mm) HVARs
o 2× 11¾ in (298 mm) Tiny Tim rocket không điều khiển
• Bombs: 4,000 lb (1,800 kg):
o Ngư lôi:
 1× 2,000 lb (910 kg) bomb
 1× Mk.13-3 torpedo dưới bụng.
o Bom treo dưới cánh:
 1× 1,000 lb (450 kg)
 2× 250 lb (110 kg)
 6× 100 lb (45 kg)


3. P40 – Warhawk/Tomahawk/Kittyhawk




Loại : Chiến đấu cơ, máy bay tấn công mặt đất.
Nhà sản xuất : Tập đoàn Curtiss Wright
Thiết kế : Donovan Berlin
Cất cánh lần đầu : 1938
Chính thức hoạt động : 1939
Về hưu : 1958
Được sử dụng bởi : Không quân Mỹ - Không quân Hoàng Gia – Không quân Úc và một số nước khác.
Thời kì sản xuất : 1939– 1944
Số lượng : 13,738

Curtiss P-40 Warhawk là loại chiến đấu cơ 1 chỗ ngồi, một động cơ, là loại máy bay đa năng bao gồm tấn công mặt đất. P-40 được dùng rất nhiều trong WWII, nó là hậu duệ của loại P-36 và được sử dụng trong không quân của 28 quốc gia khác nhau.
Do thiếu trang bị chế độ Supercharger nên P-40 tỏ ra yếu thế trong không chiến tầm cao đối với không quân Luffwaffe, do vậy chúng ít được sử dụng tại chiến trường Tây Bắc Âu. Tuy vậy trong suốt những năm 1941-1944, P-40 là xương sống trong không quân của Đồng Minh trong 3 chiến trường lớn : Bắc Phi – Tây Bắc Thái Bình Dương – Trung Quốc. Chúng cũng được sử dụng tại chiến trường Trung Đông, Đông Nam Á, Đông Âu, Alaska và Italy do tại đó không chiến tầm cao không xảy ra nhiều, P-40 đóng vài trò là máy bay ném bom, hộ tống.
P-40 tham chiến lần đầu tại chiến trường Trung Đông và Bắc Phi tháng 6 – 1941.
Không quân Hoàng Gia Anh, đơn vị số 112 đóng quân tại Bắc Phi là đơn vị đầu tiên sử dụng P-40, với hình vẽ đầu cá mập trước mũi máy bay, giống những chiếc BF-109s Luffwaffe, tuy nhiên chúng được sử dụng nhiều hơn bởi đội bay Flying Tiger ( Cọp bay ) tại Trung Quốc.

Loại chiến đấu cơ P-40 chứng tỏ có khả năng vận động rất tốt, đặc biệt là tốc độ cao ở không chiến tầm trung và tầm thấp, nó còn là một trong những loại chiến đấu cơ có vòng lượn bé nhất trong chiến tranh, tuy nhiên ở tốc độ thấp vòng lượn của chúng vẫn thua những chiếc Zero A6M và Ki-43 Hayabusa.

P-40 là loại máy bay có cấu trúc đơn giản, không nhiều đột phá nhưng cấu trúc của chúng rất bền, cho phép sống sót trong va chạm trên không. Buồng máy và buồng lái được gia cố chống đạn, điều này giúp các phi công phi đội Cọp Bay có thể thực hiện các pha bắn đối đầu trực tiếp với phi công Nhật hơn là đánh quần vòng.
Là loại máy bay có cấu trúc bền, nhưng P-40 lại có càng đáp yếu, khả năng quan sát mặt đất tồi, do vậy rất nhiều vụ tai nạn xảy ra khi đáp đối với loại máy bay này.
Một Ace của Australia là Clive Caldwell, bắn rơi hơn 28 máy bay địch, 22 trong số đó là trên chiếc P-40 phát biểu rằng : P-40 được trang bị 3 khẩu súng máy, 1 x .50 caliber bắn qua cánh quạt, 2 x .303 Browning mỗi cánh là không tương xứng. Do vậy máy bay dễ mất cân bằng và hơi khó điều khiển khi bay tốc độ thấp, tuy nhiên ở tốc độ cao nó là vũ khí tuyệt vời.
Chiến thắng đầu tiên của P-40 Warhawk là bắn rơi một chiếc CANT Z.1007 trên bầu trời Alexandria bởi Hamlyn và hạ sĩ quan Tom Paxton thuộc đơn vị 211a Squadriglia of the Regia Aeronautica. Vài ngày sau trong chiến dịch Syrie – Lebanon của đơn vị không quân Hoàng Gia số 3, 19 máy bay địch bị bắn rơi tại Vichy Pháp mà chỉ mất 1 chiếc P-40.
P-40 còn là nỗi khiếp sợ của máy bay ném bom phía Phát xít Đức, ngay cả những chiếc BF-109 cũng chỉ nhỉnh hơn P-40 một chút và chỉ hơn ở không chiến tầm cao. P-40 thường trội hơn BF-109 trong không chiến chiều ngang, tốc độ cao hơn, hỏa lực ngang bằng, tuy nhiên về tốc độ leo thì thua loại BF-109 của Đức.

Không quân Trung Quốc – Cọp bay ( Phi công tình nguyện Mỹ )
Đơn vị Cọp bay, gồm những phi công tình nguyện người Mỹ, là một đơn vị của không quân Cộng hòa Trung Quốc ( Republic of China ), từ cuối những năm 1941 đã sử dụng những chiếc P-40.
So với các máy bay Nhật, P-40 mạnh hơn, vũ trang tốt hơn, nhanh hơn và có khả năng vận động khá. Tuy không thể sánh về khả năng vận động linh hoạt như Nakajima Ki-27 và Ki-43 của Nhật, các phi công Cọp bay dẫn đầu bởi Claire Chennault đã sử dụng chiến thuật hợp lý để dành ưu thế, đó là chiến thuật Boom n Zoom, và nó đã tỏ ra hiệu quả, 297 máy bay địch đổi lấy 21 máy bay và phi công P-40.

Thông số kĩ thuật P-40

- Đội bay : 1 người
- Dài : 9,66 m
- Chiều dài cánh : 11,38 m
- Cao : 3,76 m
- Diện tích cánh : 21,92 m2
- Trọng lượng rỗng : 2,880 tấn
- Trọng lượng tối đa : 4,000 tấn
- Động cơ : Powerplant: 1× Allison V-1710-39 liquid-cooled V12 engine, 1,150 hp (858 kW)


Tốc độ tối đa : 580 km/h
Tầm bay tối đa: 1100 km
Trần bay : 8,800 m
Tốc độ leo : 11,0 m/s



CÒN TIẾP .....


4. P-51 – Mustang





Loại : Chiến đấu cơ, tấn công mặt đất
Nhà sản xuất : North American Aviation
Thiết kế :
Edgar Schmued
Raymond H. Rice
Larry Waite
E. H. Horkey
Cất cánh lần đầu : 26 – 10 – 1940
Chính thức hoạt động : 1942
Về hưu : 1957
Được sử dụng bởi : Không quân Mỹ - Không quân Hoàng Gia Anh
Số lượng : 15,875
Giá thành : 50.895 $

P-51 Mustang đi vào hoạt động vào giữa thời kì chiến tranh thế giới thứ 2, đóng vai trò là máy bay tiêm kích – tấn công mặt đất và là một trong những vũ khí uy lực nhất của không quân Mỹ và Đồng Minh.
Với tầm hoạt động rộng, P-51 thường được dùng như máy bay hộ tống bomber trong những đợt ném bom nước Đức, giúp củng cố uy thế về không quân của quân Đồng Minh. P-51 còn được dùng trong những năm đầu của chiến tranh Triều tiên, sau đó được chuyển sang vai trò tấn công mặt đất. P-51 còn được không quân một số nước sử dụng đến đầu những năm 80.
P-51 rất dễ chế tạo, có độ bền cao, giá thành hợp lý.
Sau chiến tranh thế giơis 2, P-51 Mustang còn được chuyển thành loại máy bay dân dụng, sử dụng trong các cuộc thi máy bay.
Một điểm đáng chú ý trong lịch sử của P-51 là nó được thiết kế chế tạo chỉ trong vòng 117 ngày.

Loại P-51 B/C Mustang với nhiên liệu giàu Octan thậm chí còn đuổi kịp tên lửa V1 khi đang oanh tạc London và hạ chúng.
Phi công Chuck Yeager, bay chiếc P-51D là phi công Mỹ đầu tiên bắn rơi một chiếc Me 262 – loại phản lực tối tân của Đức – khi nó đang chuẩn bị hạ cánh.

Thông số kĩ thuật P-51 D Mustang

- Đội bay : 1 người
- Dài : 9,83 m
- Chiều dài cánh : 11,28 m
- Cao : 4,17 m
- Diện tích cánh : 21,83 m2
- Trọng lượng rỗng : 3,465 tấn
- Trọng lượng tối đa : 5,490 tấn
- Động cơ : 1× Packard Merlin V-1650-7 liquid-cooled supercharged V-12, 1,695 hp (1,265 kW)

Tốc độ tối đa : 703 km/h
Tầm bay tối đa: 2755 km với thùng xăng phụ
Trần bay : 12,770 m
Tốc độ leo : 16,3 m/s

Vũ trang :
• 6 Súng máy × 0.50 in (12.7 mm) ;
• 400 viên mỗi khẩu trong thân;
• 270 viên mỗi khẩu ngoài cánh
• 2 điểm treo ngoài treo bom 1 tấn
• 10 × 5 in (127 mm) rockets

5. Spitfire





Loại : Chiến đấu cơ
Nhà sản xuất : Supermarine
Thiết kế :
R.J.Mitchell
Cất cánh lần đầu : 5 – 3 – 1936
Chính thức hoạt động : 1938
Về hưu : 1955
Thời gian sản xuất : 1938 - 1948
Được sử dụng bởi : Không quân Hoàng Gia Anh
Số lượng : 22,351
Giá thành : 12,604 bảng

Chiếc Supermarine Spitfire là một kiểu Máy bay tiêm kích Anh Quốc một chỗ ngồi được Không quân Hoàng gia Anh và nhiều nước Đồng Minh sử dụng trong Thế Chiến II đến tận những năm 1950.[1] Nó được sản xuất với số lượng nhiều hơn cả trong các kiểu thiết kế của Đồng Minh, và là chiếc máy bay Đồng Minh duy nhất được sản xuất từ lúc bắt đầu Thế Chiến II mà vẫn được tiếp tục sản xuất khi chiến tranh kết thúc.

Được sản xuất bởi chi nhánh Supermarine của hãng Vickers-Armstrongs, Spitfire được thiết kế bởi nhà thiết kế chính của công ty là R. J. Mitchell, đã tiếp tục hoàn thiện mẫu thiết kế của mình cho đến khi mất vì ung thư năm 1937; vị trí này trong công ty sau đó do do học trò của ông là Joseph Smith đảm nhiệm. Nó có cánh dạng bầu dục với mặt cắt ngang mỏng, cho phép có một tốc độ tối đa cao hơn chiếc Hawker Hurricane và các thiết kế hiện đại khác; nó cũng có một kiểu dáng khá đặc trưng, thon thả và mượt mà. Được các phi công ưa thích, Spitfire phục vụ trong suốt cả Thế Chiến II và những năm sau đó, trên nhiều mặt trận và dưới nhiều phiên bản khác nhau.
Spitfire luôn được so sánh với đối thủ chính của nó, chiếc Messerschmitt Bf 109; cả hai đều là những máy bay tiêm kích tốt nhất thời kỳ đó.
Một lần nữa, Mitchell lại có khả năng giải quyết vấn đề. Đã có dư luận cho là sau khi nhìn thấy nhiều kiểu máy bay Heinkel, ông đã quyết định sử dụng cánh dạng elip cho phép có chiều rộng cánh lớn hơn đủ chỗ cho tám súng máy theo yêu cầu, trong khi vẫn giữ được độ cản thấp của kiểu cánh đơn giản thiết kế trước đây. Chuyên viên khí động học của Mitchell là Beverley Shenstone, dù sao, cũng đã chỉ ra rằng kiểu cánh của Mitchell không phải là sự sao chép trực tiếp từ chiếc Heinkel He 70, như nhiều người đã nêu ra. Ngoài việc cánh của chiếc Spitfire mỏng hơn nhiều và có mặt cắt ngang hoàn toàn khác biệt, vấn đề ở chỗ sự phát triển song song trên cùng giải pháp kỹ thuật; cánh dạng elip có hiệu quả nhất trong sự phân phối lực nâng dọc theo sải cánh, và cũng có tính năng bay tốt ở tốc độ chòng chành - một điều luôn gắn bó cùng Mitchell.[4] Cho dù thế nào, cánh dạng elip đã đủ để cho chiếc Kiểu 300 đạt được sự quan tâm của Bộ Hàng không, và họ đã cấp kinh phí bằng một tiêu chuẩn mới, F.10/35, được vạch ra dựa vào chiếc Spitfire.

Dạng cánh elip được chọn do những đóng góp cho ưu thế khí động học, nhưng nó cũng là một loại cánh chế tạo rất phức tạp, trong khi kiểu cánh vuông góc của Messerschmitt Bf 109 lại dễ chế tạo cũng đem lại tính năng bay tương đương (đối chiếu từng phiên bản tương đương) so với Spitfire. Đã có báo cáo cho biết Bf 109 chỉ cần một-phần-ba số giờ công để chế tạo so với chiếc Spitfire.
Một thiếu sót trong thiết kế cánh mỏng của chiếc Spitfire bộc lộ ra khi chiếc máy bay đạt đến tốc độ rất cao. Khi phi công dự định lộn vòng ở tốc độ như vậy, những lực khí động học áp lên các cánh tà đủ mạnh để làm xoắn toàn bộ đầu cánh theo hướng ngược lại hướng lệch của cánh tà, đưa đến hậu quả là chiếc Spitfire lộn vòng theo hướng ngược lại dự tính của phi công.
Chiếc Spitfire đầu tiên được đưa vào phục vụ trong Không quân Hoàng gia tại Phi Đội 19 tại căn cứ Không quân Hoàng gia Duxford vào ngày 4 tháng 8 năm 1938, và trong những tuẩn lễ sau đó chiếc máy bay được giao hàng với tộc độ một chiếc mỗi tuần cho cả phi đội 19 và 66 (cùng đặt căn cứ tại Duxford). Phi đội tiếp theo được trang bị Spitfire là Phi đội 41 đóng tại căn cứ Không quân Hoàng gia Catterick, sau đó là các phi đội đóng tại căn cứ Không quân Hoàng gia Hornchurch tại Essex. Cuộc ra mắt công chúng lần đầu tiên của chiếc Spitfire sơn màu của Không quân Hoàng gia là vào Ngày Hàng Không Đế Chế 20 tháng 5 năm 1939 tại cuộc trưng bày ở Duxford, trong đó một phi công đã đáp bằng bụng máy bay của anh sau khi quên hạ càng đáp và bị Bộ Hàng Không phạt 5 Bảng sau đó. Khi Thế Chiến II nổ ra, có khoảng 400 chiếc Spitfire đang phục vụ trong Không quân Hoàng gia, và thêm khoảng 2.000 chiếc đang được đặt hàng.
Trong một sự kiện được biết dưới tên Trận chiến Barking Creek vào ngày 6 tháng 9 năm 1939, máy bay Spitfire đã bắn vào một cặp Hawker Hurricane không may mắn thuộc Phi đội 56 Không quân Hoàng gia. Những chiếc Hurricane bị bắn rơi bởi những chiếc Spitfire thuộc Phi đội 74 Không quân Hoàng gia trong một sự cố bắn nhầm bên trên bầu trời Medway, dẫn đến cái chết của Thiếu úy Montague Leslie Hulton-Harrop, phi công Anh đầu tiên thiệt mạng trong Thế Chiến II.
Bắt đầu từ cuối năm 1943, các thử nghiệm bổ nhào tốc độ cao được thực hiện tại Farnborough để khám phá các đặc tính điều khiển của chiếc máy bay khi tốc độ đạt gần đến hàng rào âm thanh (tức là khởi đầu các hiệu ứng do nén). Bởi vì nó là chiếc máy bay đạt được tốc độ nhanh nhất gần tốc độ âm thanh (Mach), chiếc Spitfire XI được chọn để tham gia các thử nghiệm này. Do độ cao cần thiết phải đạt được dùng cho việc bổ nhào này, một kiểu cánh quạt nhẹ Rotol được trang bị để ngăn ngừa quá tải vòng quay động cơ. Trong những thử nghiệm như vậy mà chiếc máy bay số hiệu EN409, do Thiếu tá J. R. Tobin điều khiển đã đạt được tốc độ 975 km/h (606 mph; Mach 0.891) trong một cú bổ nhào 45°. Vào ngày 27 tháng 4 năm 1944 chiếc máy bay đó bị hỏng động cơ trong một lần bổ nhào được thực hiện bởi Thiếu tá A. F. Martindale, cánh quạt và hộp số giảm tốc bị vỡ. Martindale đã lướt thành công quãng đường 30 km (20 dặm) quay trở về sân bay và hạ cánh an toàn.
Vào ngày 5 tháng 2 năm 1952, một chiếc Spitfire Mk 19 thuộc Phi đội 81 Không quân Hoàng gia trú đóng tại Hồng Công đã đạt được có lẽ là độ cao cao nhất từng đạt đến bởi một chiếc Spitfire. Viên phi công, Đại úy Ted Powles, đang trong một chiến bay thường xuyên khảo sát nhiệt độ không khí bên ngoài và báo cáo về những điều kiện khí hậu khác tại những cao độ khác nhau nhằm chuẩn bị cho các dịch vụ hàng không trong khu vực. Ông đã đạt đến độ cao danh định 15.240 m (50.000 ft) và độ cao thực là 15.712 m (51.550 ft), là độ cao cao nhất từng được ghi nhận bởi một chiếc Spitfire. Áp lực bên trong buồng lái giảm đến mức dưới an toàn, và trong khi hạ độ cao, ông bị lọt vào một cú bổ nhào không kiểm soát được làm rung lắc máy bay dữ dội. Ông sau cùng lấy lại được sự kiểm soát máy bay ở độ cao khoảng dưới 900 m (3.000 ft), và đã hạ cánh an toàn mà không bị hư hại gì cho chiếc máy bay. Các thiết bị đã ghi nhận được là trong khi bổ nhào, ông đã đạt đến tốc độ 1110 km/h (690 mph) hay Mach 0,94, vốn là tốc độ nhanh nhất đạt được bởi một chiếc máy bay cánh quạt. Ngày nay, người ta hầu như tin rằng con số tốc độ này là kết quả của các sai lầm về công cụ đo và có thể xem như không thực tế.
Thông số kĩ thuật Supermarine Spitfire

- Đội bay : 1 người
- Dài : 9,12 m
- Chiều dài cánh : 11,23m
- Cao : 3,86 m
- Diện tích cánh : 22,48 m2
- Trọng lượng rỗng : 2,309 tấn
- Trọng lượng tối đa : 3,071 tấn
- Động cơ : 1× Rolls-Royce Merlin 45 supercharged V12 engine, 1,470 hp at 9,250 ft (1,096 kW at 2,820 m)
-
Tốc độ tối đa : 605 km/h
Tầm bay tối đa: 1840 km với thùng xăng phụ
Trần bay : 11,300 m
Tốc độ leo : 13,5 m/s

Vũ trang :
Phiên bản Mk I , II, VA
• 8 Súng máy × 0.303 in (7.7 mm) 350 viên mỗi khẩu;
• 2 x 20 (.787 in )Hispano MkII cannon 60 viên mỗi khẩu;
Phiên bản #
• 4 x 0.303 in Browning machine gun 350 viên mỗi khẩu
• 2 x 250 pound bombs ( 110 kg )

Last edited by shabondama; 19-11-2010 at 10:00.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump

All times are GMT +7. The time now is 14:51.
Chịu trách nhiệm nội dung: Bạch Thành Trung © 2019 Công ty TNHH Thật Vi Diệu
ĐC tầng 4, số 6-8 Đường D2, Bình Thạnh, Hồ Chí Minh, Việt Nam - SĐT 0981323799 - MST 0313906593
Giấy phép thiết lập MXH số 334/GP-BTTTT, Ký ngày: 19/08/2019